Monthly Archives: Tháng Ba 2006

AJAX là công cụ trọng tâm trong thế thệ Internet 2.0.Đề tài kỹ thuật vốn luôn khô khan và không mấy thú vị, nhưng những câu chuyện về quá trình phát triển của AJAX trong không gian ứng dụng Internet đa phương tiện đã tạo nên sức hút khó tin xuyên suốt năm 2005.

Thế hệ Web 2.0 chỉ vừa bắt đầu và sẽ phải trải qua cả một chặng đường dài phía trước để có thể thay đổi những gì vốn đã trở nên quen thuộc với mọi người hiện nay. Đóng vai trò then chốt trong giai đoạn thứ hai của web là tổ hợp công nghệ AJAX. Dù thế giới chưa thực sự sẵn sàng đón nhận, nhiều người cho rằng các ứng dụng AJAX đang phát triển còn nhanh hơn cả định luật Moore – động lực thúc đẩy ngành điện toán gốc.

AJAX là gì?

AJAX, viết tắt từ Asynchronous JavaScript and XML (JavaScript và XML không đồng bộ), là bộ công cụ cho phép tăng tốc độ ứng dụng web bằng cách cắt nhỏ dữ liệu và chỉ hiển thị những gì cần thiết, thay vì tải đi tải lại toàn bộ trang web. AJAX không phải một công nghệ đơn lẻ mà là sự kết hợp một nhóm công nghệ với nhau. Trong đó, HTML và CSS đóng vai hiển thị dữ liệu, mô hình DOM trình bày thông tin động, đối tượng XMLHttpRequest trao đổi dữ liệu không đồng bộ với máy chủ web, còn XML là định dạng chủ yếu cho dữ liệu truyền. Đây đều là công nghệ sẵn có nhưng Javacript đã lắp ráp chúng lại để thực hiện những “sứ mệnh” đáng khâm phục.

Hầu hết các câu chuyện về nguồn gốc của AJAX được bắt đầu từ khi Microsoft phát triển công nghệ Remote Scripting vào năm 1998. Tuy nhiên, phương pháp tải không đồng bộ nội dung trên một trang web đã xuất hiện trong thành tố IFRAME của Internet Explorer 3 (1996) và thành tố LAYER của Netscape 4.0 năm 1997. Khi giới thiệu Internet Explorer 4.0, Microsoft đã sử dụng mô hình đối tượng tài liệu DOM khác biệt. Đến năm 2000, Netscape hoàn toàn đánh mất thị trường trình duyệt vào tay hãng phần mềm của Bill Gates và thành tố LAYER cũng không còn được các chuyên gia phát triển web chú ý tới.

Phải vài năm sau, AJAX mới lại lôi kéo được sự quan tâm của giới công nghệ và trở thành công cụ cải tiến giao diện người dùng cho ứng dụng web. Thuật ngữ này cũng chỉ mới xuất hiện cách đây 1 năm (tháng 2/2005) trong bài viết nổi tiếng của Jesse James Garrett trên trang Adaptive Path. Từ đó, AJAX trở thành trung tâm trong mọi câu chuyện liên quan đến thế hệ Web 2.0.

Ứng dụng web truyền thống (trái) và ứng dụng AJAX. (A

AJAX hoạt động như thế nào?

Từ lâu, mọi người đã tưởng tượng ứng dụng máy tính rồi sẽ được lưu và chạy hoàn toàn trên web thay vì nằm bó buộc trong ổ cứng. Dù vậy, viễn cảnh đó vẫn chưa thể xảy ra do ứng dụng web bị hạn chế bởi nguyên lý rằng tất cả các thao tác phải được thực hiện thông qua HTTP (HyperText Transfer Protocol – Giao thức truyền tải qua siêu liên kết). Những hoạt động của người sử dụng trên trang web sẽ tạo ra một yêu cầu HTTP tới server. Máy chủ thực hiện một số khâu xử lý như lấy lại dữ liệu, tính toán, kiểm tra sự hợp lệ của thông tin, sửa đổi bộ nhớ, sau đó gửi lại một trang HTML hoàn chỉnh tới máy khách. Về mặt kỹ thuật, phương pháp này nghe có vẻ hợp lý nhưng cũng khá bất tiện và mất thời gian, bởi khi server đang thực hiện vai trò của nó thì người dùng sẽ làm gì? Tất nhiên là chờ đợi.

Để khắc phục hạn chế trên, các chuyên gia phát triển giới thiệu hình thức trung gian – cơ chế xử lý AJAX – giữa máy khách và máy chủ. Điều này giống như việc tăng thêm một lớp giữa cho ứng dụng để giảm quá trình “đi lại” của thông tin và giảm thời gian phản ứng. Thay vì tải lại (refresh) toàn bộ một trang, nó chỉ nạp những thông tin được thay đổi, còn giữ nguyên các phần khác. Vì thế, khi duyệt một trang hỗ trợ AJAX, người sử dụng không bao giờ nhìn thấy một cửa sổ trắng (blank) và biểu tượng đồng hồ cát – dấu hiệu cho thấy máy chủ đang thực hiện nhiệm vụ. Ví dụ, trong một website ảnh, với ứng dụng truyền thống, toàn bộ trang chứa các ảnh sẽ phải mở lại từ đầu nếu có một thay đổi nào đó trên trang. Còn khi áp dụng AJAX, DHTML chỉ thay thế đoạn tiêu đề và phần vừa chỉnh sửa, do vậy tạo nên các giao dịch trơn tru, nhanh chóng.

“Mọi thao tác của người sử dụng sẽ gửi lệnh JavaScript tới bộ xử lý AJAX, thay vì tạo ra một yêu cầu HTTP (HTTP request) và truy vấn tới máy chủ”, Jesse James Garrett đã ghi trong bài viết đầu tiên định nghĩa về thuật ngữ này. “Nếu cần gì từ server, như tải về bổ sung mã giao diện hay nhận dữ liệu mới, AJAX sẽ truyền yêu cầu tới máy chủ một cách không đồng bộ, thông thường sử dụng XML, mà không làm gián đoạn sự tương tác của người dùng với ứng dụng web”.

Các ứng dụng AJAX phổ biến

Tương tác đồng bộ trong ứng dụng web truyền thống (trên) và dị bộ trong ứng dụng AJAX. (

Google Suggest hiển thị các thuật ngữ gợi ý gần như ngay lập tức khi người sử dụng chưa gõ xong từ khóa. Còn với Google Maps, mọi người có thể theo dõi những thay đổi, xê dịch, kéo thả bản đồ như trên môi trường desktop. Google Suggest và Google Maps là hai ví dụ nổi bật về phương pháp ứng dụng web thế hệ mới. Hãng dịch vụ tìm kiếm hàng đầu thế giới đã đầu tư rất nhiều vào việc phát triển AJAX. Hầu như mọi chương trình họ giới thiệu gần đây, từ Orkut, Gmail đến phiên bản thử nghiệm Google Groups, đều là những ứng dụng AJAX.

Nhiều công ty khác cũng đang nối gót xu thế này như trang chia sẻ ảnh Flickr (hiện thuộc Yahoo) hay công cụ tìm kiếm A9.com của Amazon. Yahoo dự định trong vài tuần tới sẽ ra mắt bản Yahoo Mail Beta 1 sử dụng AJAX trên toàn thế giới (đang được thử nghiệm giới hạn). Hòm thư mới sẽ được trang bị thêm nhiều tính năng thuộc Web 2.0 như RSS, chế độ xem thư trước (preview)… Microsoft cũng đang triển khai chương trình Windows Live MailWindows Live Messenger hỗ trợ AJAX.

Những dự án trên cho thấy AJAX không phải là một công nghệ quá xa xôi mà đang hiện diện ngay trong thế giới thực, từ mô hình rất đơn giản như Google Suggest đến tinh vi và phức tạp như Google Maps.

Thách thức lớn nhất khi tạo ứng dụng AJAX không nằm ở khâu kỹ thuật bởi những thành phần của nó đã xuất hiện từ lâu, hoạt động ổn định và được hiểu người biết đến. Vấn đề ở đây chỉ là “các chuyên gia thiết kế cần quên đi những giới hạn của web, bắt đầu nghĩ rộng hơn, sâu hơn về khả năng của công nghệ và sáng tạo nó theo cách riêng của mỗi người”, Alexei White, Giám đốc sản xuất của công ty eBusiness (Mỹ), nhận xét. “AJAX sẽ làm mất dần ảnh hưởng của Microsoft trên thị trường. Tuy chưa thể lấn át hoàn toàn, nó sẽ mang lại những tính năng thay thế cho hầu hết các sản phẩn như Office”.

Những nhược điểm của AJAX

AJAX có thể góp phần tạo nên một thế hệ mới cho ứng dụng web (như colr.org hay backpackit.com). Tuy nhiên, nó cũng là một công nghệ “nguy hiểm” khi gây ra không ít rắc rối về giao diện người dùng. Chẳng hạn, phím “Back” (trở lại trang trước) được đánh giá cao trong giao diện website chuẩn. Đáng tiếc, chức năng này không hoạt động ăn khớp với Javascript và mọi người không thể tìm lại nội dung trước đó khi bấm phím Back. Bởi vậy, chỉ một sơ xuất nhỏ là dữ liệu trên trang đã bị thay đổi và khó có thể khôi phục lại được. Đây là một trong những nguyên nhân chính khiến nhiều người không ủng hộ ứng dụng Javascript.

Bên cạnh đó, mọi người không thể lưu lại địa chỉ web vào thư mục Favorite (Bookmark) để xem lại về sau. Do áp dụng lớp trung gian để giao dịch, các ứng dụng AJAX không có một địa chỉ cố định cho từng nội dung. Khiếm khuyết này làm cho AJAX dễ “mất điểm” trong mắt người dùng.

Những trình duyệt hỗ trợ AJAX là Microsoft Internet Explorer 5.0 trở lên; browser dựa trên Gecko như Mozilla, Firefox, SeaMonkey, Epiphany, Galeon và Netscape 7.1; trình duyệt chứa KHTML API 3.2 trở lên như Konqueror, Apple Safari…

CSS – tập tin định kiểu theo tầng (Cascading Style Sheets) – được dùng để miêu tả cách trình bày các tài liệu viết bằng ngôn ngữ HTML, XHTML, XML, SVG, XUL… Các thông số kỹ thuật của CSS do tổ chức World Wide Web Consortium (W3C) quản lý.

DOM – mô hình đối tượng tài liệu (Document Object Model) – là một giao diện lập trình ứng dụng (API). Thông thường DOM có dạng một cây cấu trúc dữ liệu và được dùng để truy xuất các tài liệu HTML và XML. Mô hình DOM hoạt động độc lập với hệ điều hành và dựa theo kỹ thuật lập trình hướng đối tượng để mô tả tài liệu.

DHTML, hay HTML động, tạo một trang web bằng cách kết hợp các thành phần: ngôn ngữ đánh dấu HTML tĩnh, ngôn ngữ lệnh máy khách (như Javascript) và ngôn ngữ định dạng CSS và DOM. Do có khả năng phong phú, DHTML còn được dùng như một công cụ xây dựng các trò chơi đơn giản trên trình duyệt.

“Thầy tao nói chuyện học hành là chuyện cả đời nha mậy. Bởi dzậy, bữa nay không học thì bữa khác học. Chuyện cả đời mà”

“Vào phòng thi, gặp đề khó cách mấy tui cũng không sợ, chỉ sợ … tên kế bên hổng làm được thôi”

“Kiến thức là cái gì còn lại sau khi đã quên hết mọi thứ.” giải nghĩa: sau khi quên hết, cái gì còn lại mới là kiến thức của mình

“Thật ra có rất ít phụ nữ đẹp. Không phải vì phụ nữ không biết làm đẹp mà vì họ làm hoài mà…vẫn không đẹp”

“Tình yêu như bông hồng thủy tinh, rực rỡ lung linh nhưng mong manh dễ vỡ. Vì dễ vỡ nên đa số người ta thường trang bị thật nhiều…đễ lỡ vỡ còn có cái mà thay”

“Tôi có thể cưỡng lại tất cả mọi thứ … trừ sự cám dỗ”

Microsoft đã công bố một vài thông tin hacking của nhóm hacker mũ xanh vào ngày thứ năm, chỉ một ngày sau khi cuộc hội thảo hacker mũ xanh lần thứ 3 diễn ra.

Website này cũng đăng tải luôn những thông tin, hình ảnh, các phát biểu, những đoạn video phỏng vấn những người đại diện, những cá nhân đã có đóng góp ít nhiều cho tổ chức Hacker Mũ xanh. Đại hội được tổ chức từ ngày 8 đến ngày 10 tháng 3 vừa qua tại chi nhánh Redmond của Microsoft ở Washington đề cập sâu đến các vấn đề như lỗi bảo mật trong các ứng dụng web, cách thức để xâm nhập vào các cơ sở dữ liệu…

Website này có tên “Bluehat Security Briefing”, được Microsoft bắt đầu hơn một năm nay. Mục đích là có những cuộc đối thoại giữa đội ngũ về bảo mật của công ty với các cao thủ nghiên cứu bảo mật bên ngoài. Đây là một hình thức hợp tác với hacker để phát triển của Microsoft. Rất nhiều lỗi bảo mật nghiêm trọng đã được “nhóm Hacker mũ xanh này phát hiện”.

Có thể hiểu, các thành viên của Bluehat được xem như những nhân viên được ưu đãi của Microsoft trong bước đường công ty này dần hoàn thiện các sản phẩm của mình. Và Bluehat Brief là một trong những phương tiện để các thành viên có thể trao đổi về những vấn đề bảo mật mà họ phát hiện, dưới dạng blogs thay vì trên một forum.

Hội thảo Bluehat lần 3 có hơn 650 thành viên tham dự. Được biết đây là một nhóm gần như là ở thế đối đầu với “Hacker mũ đen”. Màu xanh được lấy từ các huy hiệu mà nhân viên của Microsoft mang khi tham gia hội thảo này.

Bạn đọc quan tâm có thể vào đây để tìm hiểu và theo dõi những thông tin.

Thông thường khi xem các đoạn phim video có những hình ảnh rất đẹp, bạn muốn chụp các bức ảnh đó để lưu lại nhưng không thể nào chụp được các hình ảnh như mong muốn.

Các chương trình sau đây sẽ giúp bạn chụp lại các bức ảnh từ phim một cách dễ dàng.

Sử dụng phím Printscreen trên bàn phím

– Nhấn chuột phải vào màn hình chọn Properties. Trong hộp thoại Display Properties, bạn chọn thẻ Settings, nhấn chuột vào nút Advanced. Trong hộp thoại mới xuất hiện, bạn chọn thẻ Troubleshoot và tìm đến mục Hardware acceleration. Tại mục này bạn sẽ thấy một thanh trượt kéo dài từ None sang Full.

Theo mặc định nút kéo trên thanh trượt sẽ nằm ở Full, bạn hãy kéo chúng về None, sau đó nhấn OK để đóng hộp thoại này lại, nhấn tiếp OK lần nữa để thoát ra ngoài. Lúc này, bạn hãy mở đoạn phim cần chụp hình ra bằng các chương trình Windows Media Player, Herosoft, Winamp…, sau đó di chuyển thanh trượt đến đoạn phim cần trích xuất hình, nhấn phím Printscreen trên bàn phím hay dùng các chương trình chuyên dụng khác để chụp lại.

Nếu sử dụng nút Printscreen, bạn mở chương trình Paint trong Windows ra, nhấn Ctrl+V để dán bức hình đã chụp vào, tiếp đến vào menu File > Save As, duyệt đến thư mục lưu lại bức ảnh này.

Sau khi đã chụp xong các bức ảnh bạn nên vào lại hộp thoại này và kéo nút trượt về vị trí Full. Nhấn OK hai lần để chấp nhận sự thay đổi này.

Sử dụng các chương trình chuyên dụng trích xuất hình từ phim

+ WinDVD: mặc dù đây là chương trình xem phim trên các đĩa DVD nhưng vẫn hỗ trợ các định dạng file của VCD, SVCD. Để chụp hình, bạn nhấn nút Pause để dừng đoạn phim đó lại, tiếp đến nhấn nút Snapshot trên khung video.

Ngay lập tức, khung kế bên xuất hiện tấm hình bạn vừa mới trích xuất ra, sau đó bạn chỉ việc nhấn chuột vào biểu tượng hình chiếc đĩa mềm phía dưới chọn Save As, chỉ định thư mục và đặt tên file lưu lại, nhấn nút save để lưu. Thế là xong!

+ PowerDVD: đây cũng là chương trình chơi các đĩa DVD, VCD, SVCD. Đầu tiên, bạn nhấn nút Configurations trên thanh công cụ xem phim.

Trong hộp thoại xuất hiện, bạn chọn thẻ Player > nhấn nút Advanced. Hộp thoại Advanced Options xuất hiện, trong thẻ Snapshot phần Default Capture Mode, bạn đánh dấu kiểm vào mục Capture to file, rồi nhấn nút Browse duyệt đến thư mục chứa ảnh sau khi trích xuất.

Phần Captured Aspect Ratio, bạn xác lập độ phân giải cần chụp cho các bức hình như Original video source size (giữ nguyên hình ảnh gốc trong phim), Current video window video (chụp theo kích thước đang mở đoạn video), Custom size (chỉ định kích thước tùy ý – nếu chọn mục này bạn nên đánh dấu kiểm vào tùy chọn Keep aspect ratio).

Sau khi thiết lập xong, bạn nhấn OK hai lần để chấp nhận sự thay đổi này. Sau đó bạn quay ra ngoài cửa sổ chính của chương trình đang xem, di chuyển thanh trượt đế vị trí muốn trích xuất hình nhấn nút Capture frame. Chương trình sẽ tự động lưu lại các bức ảnh trong thư mục bạn đã chỉ định ở trên.

+ Herosoft 2001: đối với chương trình này, bạn không cần phải thiết lập gì cả. Hãy mở đoạn phim muốn trích xuất hình ra, sau đó di chuyển thanh trượt đến vị trí cần chụp hình, nhấn nút Savepicture, sau đó đặt tên file và chỉ định thư mục lưu là xong!


Ngày nay, hệ thống tín chỉ Mỹ đang được chính thức đề nghị như một phương thuốc chữa trị tính chất xơ cứng của kế hoạch học tập và chương trình đào tạo thống nhất ở TQ.
Hầu hết các trường đại học ở TQ đều đang thực hiện đào tạo theo tín chỉ.
Kinh nghiệm của TQ trong việc vận dụng hệ thống tín chỉ Mỹ rất đáng lưu ý. Trước hết và quan trọng hơn hết, ở TQ, hệ thống tín chỉ đơn giản chỉ là chồng lên trên một kế hoạch giảng dạy được sửa chữa chút ít và SV vẫn có rất ít quyền lựa chọn môn học.
Các đại học TQ phân bổ số giờ tín chỉ cho từng môn, nhưng những môn bắt buộc vẫn chiếm tới 85% trong chương trình cử nhân bốn năm. Chưa hết, các tín chỉ thường không thể chuyển đổi giữa các khoa hoặc giữa các trường.
So với Mỹ, nơi mà hệ thống tín chỉ được xem như phương tiện để thực hiện giáo dục tổng quát, thì ở TQ hệ thống tín chỉ có vẻ như được vận dụng như một mục đích tự thân, như một phương tiện để tính khối lượng kiến thức mà SV đã học được. Kết quả là hệ thống tín chỉ được dùng như một công cụ quản lý mà không đạt được những lợi ích như trong hệ thống giáo dục đại học Mỹ.
Tại sao hệ thống tín chỉ Mỹ ở TQ lại khác nhiều đến thế so với ở Mỹ? Dù câu trả lời có thể phức tạp và đa diện, có thể xem hai nhân tố sau đây là quan trọng nhất:
1. Trước hết, việc thực hiện hệ thống tín chỉ ở TQ thiếu hẳn một cuộc tranh luận tương ứng về phương diện lý luận, và một tuyên ngôn ở cấp nhà trường vốn là một định hướng tuyệt đối không thể thiếu cho việc tạo ra hệ thống tín chỉ.
Ở TQ, sự chỉ trích đối với hệ thống tín chỉ Mỹ tỏ ra đúng khi cho rằng hệ thống này có những ảnh hưởng tiêu cực, chẳng hạn cho phép khá nhiều SV chỉ theo đuổi những môn dễ học, bỏ qua những môn cơ bản, và vì vậy mà thất bại trong việc thụ đắc một kiến thức có tính hệ thống.
Các “kiến trúc sư“ của chương trình đào tạo ở các đại học Mỹ cũng từng phải đương đầu với những phê phán như vậy từ lâu, và đã đi đến những câu trả lời khá là khác nhau qua một quá trình cân nhắc rất thận trọng. Như đã nói, hệ thống tín chỉ Mỹ chẳng hề là một hệ thống: ở trường này, nó được dùng để tạo thuận lợi cho một chương trình hoàn toàn tự chọn; ở trường khác, nó chỉ là một hệ thống quản lý bởi vì tất cả các môn đều là bắt buộc; và ở các trường đại học Mỹ quan trọng nhất, hệ thống tín chỉ được dùng để thực hiện quan niệm cụ thể của nhà trường về giáo dục tổng quát.
Nguyên hiệu trưởng Đại học Havard Charles Elliot, cũng như nguyên trưởng khoa Henry Rosovosky và hiệu trưởng đương nhiệm Lawrence Summers đều đáp lại những ý kiến chỉ trích về hệ thống tín chỉ với cùng một quan điểm: hệ thống giáo dục đại học không nhất thiết phải được thiết kế để thỏa mãn nhu cầu của những SV kém cỏi nhất. Những SV kém thì bao giờ cũng kém dù cho hệ thống là tự chọn hay cưỡng bách. Thay vào đó, hệ thống giáo dục cần cổ vũ SV và giảng viên đạt đến những thành tựu xuất sắc.
2. Một khả năng giải thích thứ hai là hệ thống giáo dục đại học TQ đang nỗ lực đáp ứng những yêu cầu mà sự tăng trưởng kinh tế toàn cầu đang đặt ra. Đảng Cộng sản TQ đã tuyên bố rằng nhiệm vụ chủ yếu của trường đại học là giúp hiện đại hóa đất nước.
Các nhà khoa học và quản lý giáo dục TQ đã diễn giải nhiệm vụ này theo ý nghĩa các môn học trong trường đại học cần phục vụ yêu cầu của nền kinh tế về lực lượng lao động có kỹ năng, và SV cần có những kiến thức khoa học kỹ thuật để đưa TQ trở thành một quốc gia hiện đại; TQ cần những chuyên gia chứ không phải những người tốt nghiệp đại học với một kiến thức tổng quát. Họ cho rằng hệ thống giáo dục đại học Mỹ nói chung và hệ thống tín chỉ nói riêng được thiết kế trong điều kiện nước Mỹ đã là một quốc gia công nghiệp hóa.
Điều này không đúng. Như đã nói, những cuộc tranh luận buổi đầu về nhu cầu giáo dục tổng quát ở Mỹ đã bắt đầu cách đây hơn 150 năm. Dĩ nhiên là TQ và Mỹ đang ở những trình độ phát triển kinh tế khác nhau, nhưng vẫn có một sự thật là các nhà giáo dục Mỹ luôn không ngừng suy tư về vấn đề giáo dục tổng quát trong tương quan với giáo dục chuyên ngành, và xem xét vấn đề chức năng của trường đại học với ý nghĩa triết học của nó.
Một lập luận thứ hai gắn với việc phủ nhận giáo dục tổng quát là: hệ thống tín chỉ vốn cho phép quyền lựa chọn khoa học của SV, sẽ tạo ra một mặt bằng trình độ chuyên môn thấp hơn là một hệ thống tín chỉ với những môn bắt buộc. Những sự kiện thực tế cho thấy lập luận này cũng không đúng. Như đã nói trên, sự lựa chọn của SV sẽ cổ vũ khuyến khích các khoa và các giảng viên đưa ra những môn học mới, những chuyên ngành mới gắn bó với những mối quan tâm của SV và yêu cầu của thị trường lao động.
Một chương trình cưỡng bách về bản chất coi mọi SV là như nhau và chuẩn bị cho họ một cách giống nhau để bước vào những lĩnh vực chuyên ngành. Trong lúc đó, chương trình tự chọn tạo ra một không gian rộng rãi cho phép giảng viên và SV tập trung sức chú ý vào những chuyên ngành hẹp và sâu, vốn là mũi nhọn của nghiên cứu và khoa học kỹ thuật trong mọi lĩnh vực. Thật ra ở Mỹ, các phòng thí nghiệm của các đại học đang dẫn đầu những nghiên cứu thử nghiệm, nhiều SV tốt nghiệp đại học Mỹ được đào tạo để bước vào chuyên ngành của họ với những kinh nghiệm về tri thức và phương pháp tối tân nhất.
Việc thực hiện hệ thống tín chỉ ở VN
Từ năm 1993, nhiều trường đại học ở VN đã bắt đầu thử nghiệm hệ thống tín chỉ, bao gồm Đại học Cần Thơ, Đại học Đà Lạt, Đại học Bách khoa… Tuy vậy, các đại học VN vẫn chưa xem hệ thống tín chỉ như một phương tiện đẩy mạnh việc thực hiện những quan niệm giáo dục có được thông qua quá trình tranh luận, tư vấn và lãnh đạo. Thay vào đó, hệ thống tín chỉ đang được dùng như một thứ băng dán nhằm xoa dịu những chỉ trích hiện tại, mà không tác động thật sự đến việc cải cách chương trình. Việc thực hiện hệ thống tín chỉ ở VN rất giống với những thử nghiệm ở TQ mặc dù với ít tham vọng hơn.
Để hiểu biết về những hạn chế hiện nay và tính khả thi của hệ thống tín chỉ trong tương lai ở VN, cần có nhiều hơn những công trình nghiên cứu về những vấn đề quản lý đang đặt ra cho cơ chế hiện tại của hệ thống đại học VN. Tuy vậy, có một điểm rất rõ ràng: hệ thống giáo dục đại học VN còn cách rất xa hệ thống của Mỹ và TQ về phương diện phi tập trung hóa.
Kết quả những động lực khuyến khích và một khoảng không gian cần thiết để phát triển mục tiêu và nhiệm vụ giáo dục ở cấp đại học hầu như không tồn tại, dù rằng Đại học An Giang có thể coi là một ví dụ về việc thử nghiệm thành công quá trình phi tập trung hóa ngoài bối cảnh của việc thực hiện hệ thống tín chỉ. Không có khả năng phát triển và thực hiện một quan niệm vững chắc về giáo dục ở cấp độ trường đại học, hệ thống tín chỉ có thể không mang lại lợi ích gì đáng kể cho trường đại học hoặc cho SV.
Hiển nhiên là có những điểm thuận lợi cho việc thực hiện hệ thống tín chỉ ở VN. Ở cấp độ quản lý, hệ thống tín chỉ là công cụ hợp lý hóa việc phân bổ các nguồn lực vật chất. Tuy vậy, dưới góc độ những nỗ lực cải cách giáo dục đại học VN thì đó không phải là mục tiêu quan trọng nhất.
Thay vào đó, VN phải tìm được con đường gắn kết trường đại học với kỹ nghệ điện tử, công nghệ hóa – sinh và những lý thuyết khoa học khác đang là mũi nhọn của cải cách kỹ thuật, cũng như tìm được những phương pháp khả dĩ đem lại cho SV một nền giáo dục tổng quát rất cần thiết, để họ vẫn là người có khả năng suy nghĩ một cách linh hoạt khi có những lý thuyết và phương pháp nghiên cứu mới nảy sinh. Như đã nói trên, trường đại học sẽ có một vai trò nổi bật khi VN tiếp tục con đường phát triển từ một nền kinh tế xã hội nông nghiệp đến một nền kinh tế công nghiệp, và sau đó là nền kinh tế tri thức.
Nếu muốn thành công trong việc dùng hệ thống tín chỉ như một công cụ để cải cách giáo dục, các nhà quản lý giáo dục, giảng viên và những người làm chính sách cần phải tự mình sáng tạo một tầm nhìn, một quan niệm, cũng như mục tiêu giáo dục chứa đựng trong những quan niệm ấy.
Việc sao chép nguyên xi tầm nhìn về giáo dục của Mỹ trong việc lèo lái hệ thống tín chỉ sẽ là không thể và không thích hợp. Chắc chắn là VN đang có những nhà quản lý cốt cán và những giảng viên tài năng để hoàn thành nhiệm vụ này. Tuy nhiên, để có thể tiến lên phía trước, các cá nhân ấy sẽ cần có quyền chủ động ở mức độ cao.
***
Bí quyết thật sự của giáo dục đại học Mỹ là phi tập trung hóa. Nhờ đó, tín chỉ là một cơ chế quản lý nhằm kết hợp lợi ích và mong muốn của từng cá nhân SV với quan niệm giáo dục và tầm nhìn của trường đại học. Một cách tổng quát, có thể nói tầm nhìn giáo dục này là sản phẩm của những cuộc tranh luận trí thức ở cấp đại học về vấn đề đâu là điểm quân bình lý tưởng giữa giáo dục tổng quát và giáo dục chuyên ngành, cũng như vai trò của trường đại học trong xã hội và việc phát triển cá nhân của SV.
Khi xây dựng tầm nhìn và mục tiêu như vậy, hệ thống tín chỉ được dùng để thúc đẩy cạnh tranh giữa các khoa, tạo ra những khả năng và động lực khuyến khích để nâng cao chất lượng giảng dạy của giảng viên và nghiên cứu của SV trong những chuyên ngành hẹp, có tính liên ngành và ở trình độ cao.

Sun Microsystems, đang tiếp tục cam kết của mình với cộng đồng các nhà phát triển phần mềm trong nước bằng việc tổ chức Ngày hội Các nhà Phát triển Sun trong những ngày 2/3/2006 tại Hà nội, và 3/3/2006 tại TP. Hồ Chí Minh.
Là một phần trong chương trình mở rộng dành cho các nhà phát triển phần mềm hàng đầu trên toàn thế giới của Sun Microsystems, các nhà cải cách công nghệ từ khắp nơi trên thế giới sẽ có mặt ở Việt Nam để trình bày về các chủ đề liên quan tới Java, NetBeans và OpenSolaris. Các diễn giả trong Ngày hội này sẽ bao gồm các chuyên gia công nghệ nổi tiếng thế giới như: Giám đốc Cải cách Công nghệ Rags Srivinas, các nhà cải cách Java như Tiến sĩ Doris Chen, Sridhar Reddy và Kiran Patel.
Ngày hội Các nhà phát triển Sun đem lại cho các nhà phát triển chuyên nghiệp, những nhà cung cấp nội dung, dịch vụ và tích hợp hệ thống những công nghệ, đào tạo và công cụ để nâng cao khả năng phát triển các ứng dụng dành cho Internet, intranet và trên các môi trường doanh nghiệp. Sự kiện còn bao gồm những buổi chia sẻ kiến thức về các giải pháp, sự triển khai và công nghệ mới nhất. Những người tham dự sẽ có cơ hội để nghiên cứu và ứng dụng các công nghệ thuộc thế hệ kế tiếp của Sun dành cho việc phát triển trên toàn bộ các lĩnh vực, từ các thiết bị di động tới các ứng dụng doanh nghiệp.

Ngày hội Các nhà Phát triển Sun đem tới một nền tảng hỗ trợ cho cộng đồng không ngừng phát triển này ở Việt Nam nhằm đáp ứng, hỗ trợ lẫn nhau cũng như chia sẻ những suy nghĩ và ý tưởng mang tính chất đổi mới. Những công nghệ quan trọng về nguồn mở như Hệ điều hành Solaris và các sản phẩm Java dùng cho doanh nghiệp sẽ giúp Sun cung cấp cho các nhà phát triển, những cá nhân, các doanh nghiệp và chính phủ những công cụ mới, mức an ninh tăng cường và những công nghệ đột phá, dẫn đến sự phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội trong thời đại kế tiếp của điện toán mạng – đó là Kỷ nguyên Hội nhập.
Với việc ứng dụng công nghệ Java trên hàng tỉ các thiết bị thông minh trên toàn cầu, Java đã trở nên một thành phần thiết yếu dành cho các ứng dụng kết nối và số hoá tốt hơn. Java tạo sức mạnh cho mọi vật, từ những thẻ nhân dạng (ID card) bảo mật cho tới những điện thoại di động, máy in, web-cam, máy tính điều khiển từ xa gắn trên ô tô, thiết bị y tế, máy chủ, động cơ phản lực, các bộ điều khiển chuyển động trên phi thuyền Mars Rover của NASA, và còn hơn thế nữa.
Tất cả những gì có giá trị trong việc kết nối với mạng đều đang tận dụng công nghệ Java ngày hôm nay. Dưới đây là một số ví dụ về việc công nghệ Java được tin tưởng và phát triển nhanh:
• 1 tỉ điện thoại ứng dụng Java• Hơn 4,5 triệu nhà phát triển phần mềm trên Java• Hơn 1,25 tỉ ứng dụng dùng Java card (Java card deployments)• Hơn 196 triệu lần tải xuống (download) từ địa chỉ Java.com• 149 ứng dụng Java trong ngành vận tải• 950 thành viên của Java Community Process (JCP)• 284 lệnh Java Specification Requests (JSRs)• 2600 trò chơi ứng dụng Java trên các thiết bị không dây
Ngày hội Các nhà Phát triển Sun tại Việt Nam sẽ đem tới cho những người tham dự cơ hội duy nhất để học hỏi từ các chuyên gia lỗi lạc của Sun trong lĩnh vực công nghệ Java. Ngày hội sẽ là những buổi thuyết trình kỹ thuật chuyên sâu, và những phần tập trung vào Web Services/ Service Oriented Architecture (SOA), các trò game dành cho di động. Tất cả đều thúc đẩy cho việc ứng dụng Java Studio Enterprise (JSE), Solaris OS, Java Micro Edition, NetBeans and AJAX.

Sun Developer Network
Gia nhập Sun Developer Network (SDN) đồng nghĩa với việc truy cập vào những nguồn tài nguyên online và offline giàu có, giúp bạn có thể xác định chính xác và giải quyết các vấn đề kỹ thuật mà bạn phải đối mặt thường ngày. Những khả năng quan trọng mà Sun Developer Network đem lại chính là khả năng cung cấp kịp thời và truy cập chính xác tới nguồn thông tin kỹ thuật bằng công nghệ Java và các sản phẩm, các chương trình và dịch vụ của Sun Java System; những sản phẩm không chỉ hỗ trợ trong suốt chu kỳ phát triển mà còn được thiết kế nhằm tăng cường hiệu quả cho bạn.
Sun Microsystems, Inc.
Quan niệm duy nhất – “Mạng là Máy tính” – đã dẫn đường cho Sun trong việc phát triển các công nghệ mang lại sức mạnh trên những thị trường quan trọng nhất của thế giới. Triết lý của Sun trong việc chia sẻ đổi mới và xây dựng các cộng đồng đang ở vị trí dẫn đầu của một trào lưu điện toán kế tiếp: Một Kỷ nguyên Hội nhập. Sun có mặt ở hơn 100 quốc gia, để biết thêm thông tin chi tiết xin truy cập vào những trang web: http://sun.com, hoặc: http://sun.com.sg dành cho khu vực Nam Á.