
Ngày nay, hệ thống tín chỉ Mỹ đang được chính thức đề nghị như một phương thuốc chữa trị tính chất xơ cứng của kế hoạch học tập và chương trình đào tạo thống nhất ở TQ.
Hầu hết các trường đại học ở TQ đều đang thực hiện đào tạo theo tín chỉ.
Kinh nghiệm của TQ trong việc vận dụng hệ thống tín chỉ Mỹ rất đáng lưu ý. Trước hết và quan trọng hơn hết, ở TQ, hệ thống tín chỉ đơn giản chỉ là chồng lên trên một kế hoạch giảng dạy được sửa chữa chút ít và SV vẫn có rất ít quyền lựa chọn môn học.
Các đại học TQ phân bổ số giờ tín chỉ cho từng môn, nhưng những môn bắt buộc vẫn chiếm tới 85% trong chương trình cử nhân bốn năm. Chưa hết, các tín chỉ thường không thể chuyển đổi giữa các khoa hoặc giữa các trường.
So với Mỹ, nơi mà hệ thống tín chỉ được xem như phương tiện để thực hiện giáo dục tổng quát, thì ở TQ hệ thống tín chỉ có vẻ như được vận dụng như một mục đích tự thân, như một phương tiện để tính khối lượng kiến thức mà SV đã học được. Kết quả là hệ thống tín chỉ được dùng như một công cụ quản lý mà không đạt được những lợi ích như trong hệ thống giáo dục đại học Mỹ.
Tại sao hệ thống tín chỉ Mỹ ở TQ lại khác nhiều đến thế so với ở Mỹ? Dù câu trả lời có thể phức tạp và đa diện, có thể xem hai nhân tố sau đây là quan trọng nhất:
1. Trước hết, việc thực hiện hệ thống tín chỉ ở TQ thiếu hẳn một cuộc tranh luận tương ứng về phương diện lý luận, và một tuyên ngôn ở cấp nhà trường vốn là một định hướng tuyệt đối không thể thiếu cho việc tạo ra hệ thống tín chỉ.
Ở TQ, sự chỉ trích đối với hệ thống tín chỉ Mỹ tỏ ra đúng khi cho rằng hệ thống này có những ảnh hưởng tiêu cực, chẳng hạn cho phép khá nhiều SV chỉ theo đuổi những môn dễ học, bỏ qua những môn cơ bản, và vì vậy mà thất bại trong việc thụ đắc một kiến thức có tính hệ thống.
Các “kiến trúc sư“ của chương trình đào tạo ở các đại học Mỹ cũng từng phải đương đầu với những phê phán như vậy từ lâu, và đã đi đến những câu trả lời khá là khác nhau qua một quá trình cân nhắc rất thận trọng. Như đã nói, hệ thống tín chỉ Mỹ chẳng hề là một hệ thống: ở trường này, nó được dùng để tạo thuận lợi cho một chương trình hoàn toàn tự chọn; ở trường khác, nó chỉ là một hệ thống quản lý bởi vì tất cả các môn đều là bắt buộc; và ở các trường đại học Mỹ quan trọng nhất, hệ thống tín chỉ được dùng để thực hiện quan niệm cụ thể của nhà trường về giáo dục tổng quát.
Nguyên hiệu trưởng Đại học Havard Charles Elliot, cũng như nguyên trưởng khoa Henry Rosovosky và hiệu trưởng đương nhiệm Lawrence Summers đều đáp lại những ý kiến chỉ trích về hệ thống tín chỉ với cùng một quan điểm: hệ thống giáo dục đại học không nhất thiết phải được thiết kế để thỏa mãn nhu cầu của những SV kém cỏi nhất. Những SV kém thì bao giờ cũng kém dù cho hệ thống là tự chọn hay cưỡng bách. Thay vào đó, hệ thống giáo dục cần cổ vũ SV và giảng viên đạt đến những thành tựu xuất sắc.
2. Một khả năng giải thích thứ hai là hệ thống giáo dục đại học TQ đang nỗ lực đáp ứng những yêu cầu mà sự tăng trưởng kinh tế toàn cầu đang đặt ra. Đảng Cộng sản TQ đã tuyên bố rằng nhiệm vụ chủ yếu của trường đại học là giúp hiện đại hóa đất nước.
Các nhà khoa học và quản lý giáo dục TQ đã diễn giải nhiệm vụ này theo ý nghĩa các môn học trong trường đại học cần phục vụ yêu cầu của nền kinh tế về lực lượng lao động có kỹ năng, và SV cần có những kiến thức khoa học kỹ thuật để đưa TQ trở thành một quốc gia hiện đại; TQ cần những chuyên gia chứ không phải những người tốt nghiệp đại học với một kiến thức tổng quát. Họ cho rằng hệ thống giáo dục đại học Mỹ nói chung và hệ thống tín chỉ nói riêng được thiết kế trong điều kiện nước Mỹ đã là một quốc gia công nghiệp hóa.
Điều này không đúng. Như đã nói, những cuộc tranh luận buổi đầu về nhu cầu giáo dục tổng quát ở Mỹ đã bắt đầu cách đây hơn 150 năm. Dĩ nhiên là TQ và Mỹ đang ở những trình độ phát triển kinh tế khác nhau, nhưng vẫn có một sự thật là các nhà giáo dục Mỹ luôn không ngừng suy tư về vấn đề giáo dục tổng quát trong tương quan với giáo dục chuyên ngành, và xem xét vấn đề chức năng của trường đại học với ý nghĩa triết học của nó.
Một lập luận thứ hai gắn với việc phủ nhận giáo dục tổng quát là: hệ thống tín chỉ vốn cho phép quyền lựa chọn khoa học của SV, sẽ tạo ra một mặt bằng trình độ chuyên môn thấp hơn là một hệ thống tín chỉ với những môn bắt buộc. Những sự kiện thực tế cho thấy lập luận này cũng không đúng. Như đã nói trên, sự lựa chọn của SV sẽ cổ vũ khuyến khích các khoa và các giảng viên đưa ra những môn học mới, những chuyên ngành mới gắn bó với những mối quan tâm của SV và yêu cầu của thị trường lao động.
Một chương trình cưỡng bách về bản chất coi mọi SV là như nhau và chuẩn bị cho họ một cách giống nhau để bước vào những lĩnh vực chuyên ngành. Trong lúc đó, chương trình tự chọn tạo ra một không gian rộng rãi cho phép giảng viên và SV tập trung sức chú ý vào những chuyên ngành hẹp và sâu, vốn là mũi nhọn của nghiên cứu và khoa học kỹ thuật trong mọi lĩnh vực. Thật ra ở Mỹ, các phòng thí nghiệm của các đại học đang dẫn đầu những nghiên cứu thử nghiệm, nhiều SV tốt nghiệp đại học Mỹ được đào tạo để bước vào chuyên ngành của họ với những kinh nghiệm về tri thức và phương pháp tối tân nhất.
Việc thực hiện hệ thống tín chỉ ở VN
Từ năm 1993, nhiều trường đại học ở VN đã bắt đầu thử nghiệm hệ thống tín chỉ, bao gồm Đại học Cần Thơ, Đại học Đà Lạt, Đại học Bách khoa… Tuy vậy, các đại học VN vẫn chưa xem hệ thống tín chỉ như một phương tiện đẩy mạnh việc thực hiện những quan niệm giáo dục có được thông qua quá trình tranh luận, tư vấn và lãnh đạo. Thay vào đó, hệ thống tín chỉ đang được dùng như một thứ băng dán nhằm xoa dịu những chỉ trích hiện tại, mà không tác động thật sự đến việc cải cách chương trình. Việc thực hiện hệ thống tín chỉ ở VN rất giống với những thử nghiệm ở TQ mặc dù với ít tham vọng hơn.
Để hiểu biết về những hạn chế hiện nay và tính khả thi của hệ thống tín chỉ trong tương lai ở VN, cần có nhiều hơn những công trình nghiên cứu về những vấn đề quản lý đang đặt ra cho cơ chế hiện tại của hệ thống đại học VN. Tuy vậy, có một điểm rất rõ ràng: hệ thống giáo dục đại học VN còn cách rất xa hệ thống của Mỹ và TQ về phương diện phi tập trung hóa.
Kết quả những động lực khuyến khích và một khoảng không gian cần thiết để phát triển mục tiêu và nhiệm vụ giáo dục ở cấp đại học hầu như không tồn tại, dù rằng Đại học An Giang có thể coi là một ví dụ về việc thử nghiệm thành công quá trình phi tập trung hóa ngoài bối cảnh của việc thực hiện hệ thống tín chỉ. Không có khả năng phát triển và thực hiện một quan niệm vững chắc về giáo dục ở cấp độ trường đại học, hệ thống tín chỉ có thể không mang lại lợi ích gì đáng kể cho trường đại học hoặc cho SV.
Hiển nhiên là có những điểm thuận lợi cho việc thực hiện hệ thống tín chỉ ở VN. Ở cấp độ quản lý, hệ thống tín chỉ là công cụ hợp lý hóa việc phân bổ các nguồn lực vật chất. Tuy vậy, dưới góc độ những nỗ lực cải cách giáo dục đại học VN thì đó không phải là mục tiêu quan trọng nhất.
Thay vào đó, VN phải tìm được con đường gắn kết trường đại học với kỹ nghệ điện tử, công nghệ hóa – sinh và những lý thuyết khoa học khác đang là mũi nhọn của cải cách kỹ thuật, cũng như tìm được những phương pháp khả dĩ đem lại cho SV một nền giáo dục tổng quát rất cần thiết, để họ vẫn là người có khả năng suy nghĩ một cách linh hoạt khi có những lý thuyết và phương pháp nghiên cứu mới nảy sinh. Như đã nói trên, trường đại học sẽ có một vai trò nổi bật khi VN tiếp tục con đường phát triển từ một nền kinh tế xã hội nông nghiệp đến một nền kinh tế công nghiệp, và sau đó là nền kinh tế tri thức.
Nếu muốn thành công trong việc dùng hệ thống tín chỉ như một công cụ để cải cách giáo dục, các nhà quản lý giáo dục, giảng viên và những người làm chính sách cần phải tự mình sáng tạo một tầm nhìn, một quan niệm, cũng như mục tiêu giáo dục chứa đựng trong những quan niệm ấy.
Việc sao chép nguyên xi tầm nhìn về giáo dục của Mỹ trong việc lèo lái hệ thống tín chỉ sẽ là không thể và không thích hợp. Chắc chắn là VN đang có những nhà quản lý cốt cán và những giảng viên tài năng để hoàn thành nhiệm vụ này. Tuy nhiên, để có thể tiến lên phía trước, các cá nhân ấy sẽ cần có quyền chủ động ở mức độ cao.
***
Bí quyết thật sự của giáo dục đại học Mỹ là phi tập trung hóa. Nhờ đó, tín chỉ là một cơ chế quản lý nhằm kết hợp lợi ích và mong muốn của từng cá nhân SV với quan niệm giáo dục và tầm nhìn của trường đại học. Một cách tổng quát, có thể nói tầm nhìn giáo dục này là sản phẩm của những cuộc tranh luận trí thức ở cấp đại học về vấn đề đâu là điểm quân bình lý tưởng giữa giáo dục tổng quát và giáo dục chuyên ngành, cũng như vai trò của trường đại học trong xã hội và việc phát triển cá nhân của SV.
Khi xây dựng tầm nhìn và mục tiêu như vậy, hệ thống tín chỉ được dùng để thúc đẩy cạnh tranh giữa các khoa, tạo ra những khả năng và động lực khuyến khích để nâng cao chất lượng giảng dạy của giảng viên và nghiên cứu của SV trong những chuyên ngành hẹp, có tính liên ngành và ở trình độ cao.
-
Được đọc nhiều nhất
Chủ đề
- Âm nhạc (8)
- Công nghệ thông tin (17)
- Giáo dục (3)
- Khoa học – Công nghệ (1)
- Một chút suy nghĩ (35)
- Sách hay (5)
- Thể thao (2)
- Thơ văn (23)
- Uncategorized (37)
- Vui vui (11)
- Y khoa (4)
-
Comment mới nhất
Bé Trúc trong bài Ngành Y – như tôi đã… thanhgo trong bài Ngành Y – như tôi đã… thần chết trong bài Sự khác nhau giữa Sài gòn và H… thần chết trong bài Ngành Y – như tôi đã… thần chết trong bài AFB (+) hay Bk(+) -
Bài viết mới