Monthly Archives: Tháng Tư 2006

Được xem là một cuộc cách mạng trên thế giới mạng, thế hệ web mới có những thay đổi quan trọng không chỉ ở nền tảng công nghệ mà còn cả ở cách thức sử dụng – hình thành nên môi trường cộng đồng, ở đó mọi người cùng tham gia đóng góp cho xã hội “ảo” chứ không chỉ “duyệt và xem”.

Web 2.0 là gì? Làm sao phân biệt đâu là Web 1.0 đâu là Web 2.0? Thuật ngữ “Web 2.0″ đang trở nên thịnh hành và có phần được lăng xê quá mức. Thực chất, Web 2.0 có nghĩa là sử dụng web đúng với bản chất và khả năng của nó!

Mục tiêu đầu tiên của những người tiên phong xây dựng Internet là nhằm kết nối các nhà nghiên cứu và các máy tính của họ với nhau để có thể chia sẻ thông tin hiệu quả. Khi bổ sung World Wide Web (năm 1990), Tim Berners-Lee cũng nhằm mục tiêu tạo phương tiện cho phép người dùng tự do đưa thông tin lên Internet và dễ dàng chia sẻ với mọi người (trình duyệt web đầu tiên do Berners-Lee viết bao gồm cả công cụ soạn thảo trang web). Tuy nhiên, sau đó web đã phát triển theo hướng hơi khác mục tiêu ban đầu.

Tuy có một số ngoại lệ nhưng thế giới Web 1.0 (thế hệ web trước Web 2.0) chủ yếu gồm các website “đóng” của các hãng thông tấn hay các công ty nhằm mục đích tiếp cận độc giả hay khách hàng hiệu quả hơn. Nó là phương tiện phát tin hơn là phương tiện chia sẻ thông tin. Chỉ đến gần đây, với sự xuất hiện của nhiều kỹ thuật mới như blog (hay weblog), wiki… web mới trở nên có tính cộng đồng (và cộng tác) hơn và trở nên gần hơn với sự kỳ vọng và khả năng thực sự của nó.

Khái niệm

Khái niệm Web 2.0 đầu tiên được Dale Dougherty, phó chủ tịch của OReilly Media, đưa ra tại hội thảo Web 2.0 lần thứ nhất do OReilly Media và MediaLive International tổ chức vào tháng 10/2004. Dougherty không đưa ra định nghĩa mà chỉ dùng các ví dụ so sánh phân biệt Web 1.0 và Web 2.0: “DoubleClick là Web 1.0; Google AdSense là Web 2.0. Ofoto là Web 1.0; Flickr là Web 2.0. Britannica online là Web 1.0; Wikipedia là Web 2.0. v.v…”. Sau đó Tim OReilly, chủ tịch kiêm giám đốc điều hành OReilly Media, đã đúc kết lại 7 đặc tính của Web 2.0:

1. Web có vai trò nền tảng, có thể chạy mọi ứng dụng

2. Tập hợp trí tuệ cộng đồng

3. Dữ liệu có vai trò then chốt

5. Phần mềm được cung cấp ở dạng dịch vụ web và được cập nhật không ngừng

4. Phát triển ứng dụng dễ dàng và nhanh chóng

6. Phần mềm có thể chạy trên nhiều thiết bị

7. Giao diện ứng dụng phong phú

Thoạt đầu, Web 2.0 được chú trọng tới yếu tố công nghệ, nhấn mạnh tới vai trò nền tảng ứng dụng. Nhưng đến hội thảo Web 2.0 lần 2 tổ chức vào tháng 10/2005, Web 2.0 được nhấn mạnh đến tính chất sâu xa hơn – yếu tố cộng đồng.

Công nghệ

Thực tế, ứng dụng trên web là thành phần rất quan trọng của Web 2.0. Hàng loạt công nghệ mới được phát triển nhằm làm cho ứng dụng trên web “mạnh” hơn, nhanh hơn và dễ sử dụng hơn, được xem là nền tảng của Web 2.0.

Kiến trúc công nghệ của Web 2.0 hiện vẫn đang phát triển nhưng cơ bản bao gồm: phần mềm máy chủ, cơ chế cung cấp nội dung, giao thức truyền thông, trình duyệt và ứng dụng.

Cung cấp nội dung

Bước phát triển đầu tiên và quan trọng nhất hướng đến Web 2.0 đó là cơ chế cung cấp nội dung, sử dụng các giao thức chuẩn hoá để cho phép người dùng sử dụng thông tin theo cách của mình (nghĩa là có khả năng tùy biến thông tin). Có nhiều giao thức được phát triển để cung cấp nội dung như RSS, RDF và Atom, tất cả đều dựa trên XML. Ngoài ra còn có các giao thức đặc biệt như FOAF và XFN dùng để mở rộng tính năng của website hay cho phép người dùng tương tác.

Dịch vụ web

Các giao thức truyền thông 2 chiều là một trong những thành phần then chốt của kiến trúc Web 2.0. Có hai loại giao thức chính là REST và SOAP. REST (Representation State Transfer) là dạng yêu cầu dịch vụ web mà máy khách truyền đi trạng thái của tất cả giao dịch; còn SOAP (Simple Object Access Protocol) thì phụ thuộc máy chủ trong việc duy trì thông tin trạng thái. Với cả hai loại, dịch vụ web đều được gọi qua API. Ngôn ngữ chung của dịch vụ web là XML, nhưng có thể có ngoại lệ.

Một ví dụ điển hình của giao thức truyền thông thế hệ mới là Object Properties Broadcasting Protocol do Chris Dockree phát triển. Giao thức này cho phép các đối tượng ảo (tồn tại trên web) tự biết chúng “là gì và có thể làm gì”, nhờ vậy có thể tự liên lạc với nhau khi cần.

Phần mềm máy chủ

Web 2.0 được xây dựng trên kiến trúc web thế hệ trước nhưng chú trọng hơn đến phần mềm làm việc ở “hậu trường”. Cơ chế cung cấp nội dung chỉ khác phương thức cấp phát nội dung động (của Web 1.0) về danh nghĩa, tuy nhiên dịch vụ web yêu cầu tiến trình làm việc và dữ liệu chặt chẽ hơn.

Các giải pháp phát triển theo hướng Web 2.0 hiện nay có thể phân làm 2 loại: hoặc xây dựng hầu hết tính năng trên một nền tảng máy chủ duy nhất; hoặc xây dựng ứng dụng “gắn thêm” cho máy chủ web, có sử dụng giao tiếp API.

Cộng đồng

Công nghệ chỉ là “bề nổi” của Web 2.0, chính cộng đồng người dùng mới là yếu tố nền tảng tạo nên thế hệ web mới. Việc chuyển từ “duyệt và xem” sang “tham gia” là cuộc cách mạng thực sự, dĩ nhiên nhờ có sự phát triển công nghệ giúp hiện thực khả năng này nhưng ở đây muốn nhấn mạnh đến hành vi của người dùng đối với web.

Hiện trạng phổ biến của các website thế hệ 1.0 đó là chứa nhiều thứ phiền toái và làm việc chậm chạp, dường như luôn muốn gửi đến người dùng thông điệp: đây là website của chúng tôi chứ không phải của bạn. Căn nguyên của vấn đề có thể là do chủ sở hữu các website cảm thấy họ “cho không” cái gì đó. Đôi khi chủ sở hữu website cho rằng càng làm khó người dùng thì họ càng được lợi! Điển hình như một số site cho bạn đọc đoạn đầu của bài viết rồi yêu cầu bạn phải đăng ký (có phí hay không) để đọc nốt phần còn lại.
Dĩ nhiên, với sự phổ biến của các phần mềm máy chủ, trong đó có cả phần mềm miễn phí như Apache thì người dùng có thể đưa lên web bất kỳ thông tin gì. Tuy nhiên có nhiều yếu tố cản trở: kỹ năng tạo website, hạn chế của nhà cung cấp dịch vụ Internet, việc bảo mật và kiểm duyệt…

Về cơ bản, Web 2.0 trao quyền nhiều hơn cho người dùng và tạo nên môi trường liên kết chặt chẽ các cá nhân với nhau. Giờ đây có nhiều ví dụ cho thấy cộng đồng người dùng có thể đóng góp thông tin giá trị khi họ có phương tiện thích hợp. Wikipedia có lẽ là ví dụ nổi tiếng nhất. Tuy có nhiều học giả không đánh giá cao Wikipedia, nhưng họ quên một điều quan trọng: nó đủ tốt, miễn phí và nhiều người có thể đọc. Ngoài ra còn có những ví dụ khác như các site Reddit và Digg để cho người dùng quyết định thông tin gì là quan trọng, hay del.icio.us cho phép mọi người chia sẻ những địa chỉ web hay.

Web 2.0 cho phép mọi người có thể đưa lên mạng bất cứ thông tin gì. Với số lượng người tham gia rất lớn, đến mức độ nào đó, qua quá trình sàng lọc, thông tin sẽ trở nên vô cùng giá trị. Ở đây có sự tương đồng với thuyết chọn lọc tự nhiên.

Kết luận

Thật sự, Web 2.0 không phải là cái gì đó hoàn toàn mới mà là sự phát triển từ web hiện tại. Nó vẫn là web như chúng ta dùng lâu nay, chỉ có điều giờ đây chúng ta làm việc với web theo cách khác. Các website không còn là những “ốc đảo” mà trở thành những nguồn thông tin và chức năng, hình thành nên môi trường điện toán phục vụ các ứng dụng web và người dùng.

Không phải là viễn cảnh, Web 2.0 đã hiện hữu quanh chúng ta với hàng loạt website thế hệ mới. Xu hướng chuyển đổi sang Web 2.0 đang diễn ra mạnh mẽ và là xu thế tất yếu.


NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA WEB 2.0

Quá kỳ vọng: Nhiều người cho rằng Web 2.0 sẽ đặt dấu chấm hết cho ứng dụng cài đặt trên máy tính (ứng dụng desktop) và là giải pháp cho mọi vấn đề trong lĩnh vực phần mềm. Các ứng dụng Web 2.0 yêu cầu kết nối Internet ổn định và nhanh để làm việc. Trừ khi kết nối băng rộng được phủ khắp, còn không thì Web 2.0 chỉ là một bổ sung cho cách thức chúng ta làm việc (bên cạnh ứng dụng desktop).
Quá đơn giản: Web 2.0=Ajax! Cũng như Web 2.0, Ajax được kỳ vọng quá nhiều, thậm chí nhiều người còn đánh đồng Ajax với Web 2.0. Thực chất, Ajax chỉ là một trong số nhiều công nghệ nền tảng của Web 2.0 và Ajax còn có những hạn chế.
Quá chú trọng công nghệ: RSS, SOA, Ajax… hàng loạt công nghệ nổi đình nổi đám gần đây được gắn liền với Web 2.0. Người ta hăm hở áp dụng các công nghệ mới mà không quan tâm đến các tính chất quan trọng hơn: truyền thông, cộng tác, trí tuệ cộng đồng.

Công nghệ mới của Microsoft tích hợp thư viện script phía client với nền tảng phát triển phía server của ASP.NET 2.0, cho phép phát triển ứng dụng web thế hệ mới theo kiểu Ajax.

Sau khi được Jesse James Garret “khai sinh” với bài viết nổi tiếng “Ajax: Giải pháp mới cho ứng dụng web” (“Ajax: A New Approach to Web Applications”, Adaptive Path, tháng 2/2005), Ajax trở nên nổi đình nổi đám trong thế giới web và ngày càng xuất hiện nhiều website “kiểu Ajax” như Google Maps, A9.com và Flickr. (Công nghệ Ajax cho phép tạo nên những ứng dụng web có giao diện phong phú và có thể truy xuất dữ liệu từ server để cập nhật một phần nội dung trang web hiện hành mà không phải nạp lại toàn bộ trang như ở các website truyền thống. Tham khảo bài “Kỹ thuật lập trình Ajax” – TGVT A 12/2005, tr.124)

Microsoft cũng có những ứng dụng web kiểu Ajax như MSN Virtual Earth (http://www.virtualearth.com) và Start.com. Thật ra, Microsoft đã tham gia cuộc chơi Ajax khá sớm. Tất cả các thành phần Ajax – DHTML, JScript và XMLHTTP đã có trong Internet Explorer 5 và Outlook Web Access đã dùng các kỹ thuật này từ năm 1998. Trước khi Ajax trở nên phổ biến, Microsoft đã sử dụng kỹ thuật Script Callbacks có phương thức làm việc tương tự Ajax (nhưng tính năng hạn chế hơn) trong quá trình phát triển ASP.NET 2.0.

Nắm bắt xu thế Ajax, tại PDC 2005 (Professional Developer Conference – hội thảo thường niên dành cho các nhà phát triển chuyên nghiệp) Microsoft đã công bố dự án Atlas đầy tham vọng, hứa hẹn cung cấp một nền tảng toàn diện hơn và đơn giản hoá việc phát triển ứng dụng web kiểu Ajax.

MỤC TIÊU

Mục tiêu đầu tiên của Atlas nhằm hỗ trợ phát triển phía máy khách (client), cung cấp các tính năng:

• Thư viện API hướng đối tượng bổ sung cho JavaScript.
• Tương thích trình duyệt tự động (hỗ trợ ứng dụng chạy với nhiều trình duyệt).
• Thư viện API và các thành phần hỗ trợ tính năng giao diện người dùng (UI) phong phú.
• Phát triển client kiểu khai báo (XML script) nhằm đơn giản hoá mã lệnh chương trình.

Mục tiêu thứ hai của Atlas nhằm kết hợp việc phát triển phía client với việc phát triển phía server. Thay vì chú trọng toàn bộ chương trình phía client hoặc phía server, Atlas cung cấp hỗ trợ cho cả hai, cho phép xử lý tác vụ ở nơi có ý nghĩa nhất. Phía máy chủ (server), ASP.NET có các tính năng sau phục vụ cho ứng dụng Atlas:

• Dịch vụ web có khả năng kết hợp với ứng dụng Atlas.
• Các điều khiển (web server control) sinh mã client cần thiết cho ứng dụng Atlas.

KIẾN TRÚC

Ở dạng đơn giản nhất, ứng dụng web sử dụng thư viện script của Atlas phía client gọi một dịch vụ hay ứng dụng trên máy chủ web. Nhưng với ứng dụng web phức tạp hơn, bạn sẽ phải cần đến thành phần phía server của Atlas. Không đơn thuần là thư viện Ajax bổ sung cho ASP.NET, Atlas được thiết kế để trở thành nền tảng phát triển hoàn chỉnh từ client, server đến truyền thông giữa client và server. Ngoài ra, Atlas còn cung cấp nền tảng ứng dụng – cho phép nhà phát triển “lắp ráp” các thành phần có sẵn để tạo ứng dụng.

Thành phần client

Ở phía client, Atlas cung cấp Client Script Framework có thể xem là mở rộng của JavaScript, hỗ trợ phát triển hướng đối tượng, tương thích đa trình duyệt, giao tiếp với dịch vụ web và các tính năng giao diện người dùng phong phú. Microsoft hứa hẹn Atlas Client Script Framework sẽ làm việc với tất cả trình duyệt và với web server bất kỳ. Nó không yêu cầu bất kỳ cài đặt nào phía client.

Thư viện script phía client của Atlas là tập các file JavaScript (.js), gồm các thành phần sau:

• Nhân (Script Core): bổ sung đặc tính hướng đối tượng cho JavaScript (như lớp, interface, kế thừa, xử lý sự kiện, kiểu dữ liệu…). Đây là có thể xem là .NET CLR thu nhỏ ở phía client.

• Thư viện lớp cơ bản (Base Class Library): cung cấp các lớp và cấu trúc cơ bản được dùng trong phát triển .NET Framework (như StringBuilder, Debug, Event…); cung cấp thư viện API xử lý mã client dạng khai báo (XML). Lớp này còn cung cấp hỗ trợ XMLHTTP với WebRequest và WebResponse, cho phép gọi WebMethod ở các file .asmx và .aspx hay dịch vụ web bất kỳ.

• Lớp mô hình thành phần và khung giao diện (Component Model và UI Framework): định nghĩa các thành phần, cơ chế liên kết các thành phần với nhau và các phương thức thực thi. Phần UI Framework xác định các kiểu thành phần giao diện cùng với hành vi (như kéo-thả).

• Các điều khiển và thành phần (Controls & Components): tập các thành phần xây dựng sẵn và các điều khiển dùng cho phát triển phía client như Timer (bộ định thời), Counter (bộ đếm), các điều khiển form thông thường, điều khiển gắn với dữ liệu (ListView) hay điều khiển bản đồ (dựa trên Virtual Earth).

• Lớp tương thích trình duyệt (Browser Compatibility): xử lý tương thích với các trình duyệt (hiện tại, Atlas có thể chạy trên IE, Safari và Firefox).

Thành phần server

Thành phần server của Atlas được xây dựng trên ASP.NET 2.0, cơ bản gồm các dịch vụ web ASP.NET và các điều khiển server. Các thành phần server này làm việc kết hợp với thư viện client của Atlas.

• Điều khiển server (Atlas Server Controls): thực hiện sinh mã client (mã lệnh JavaScript và mã khai báo XML) có những đặc tính Atlas. Các điều khiển server của Atlas tương tự như các điều khiển server của ASP.NET, có ích cho người có kinh nghiệm phát triển phía server. Ngoài các điều khiển thông thường như nút lệnh, ô text, ô chọn, liên kết… còn có những điều khiển Atlas đặc biệt để xử lý những hành vi ở client như rê và nhấn chuột… Tất cả những điều khiển này sẽ được tích hợp vào Visual Studio để cho phép làm việc ở màn hình thiết kế giống như các điều khiển server của ASP.NET.

• Cầu nối dịch vụ web (Web Services Bridge): cho phép mã client liên lạc (2 chiều: gửi và nhận dữ liệu) với dịch vụ web kiểu .asmx của ASP.NET (cũng như WebMethod được định nghĩa trên trang .aspx) và .svc của Indigo (công nghệ SOA mới nhất dự kiến ra mắt cùng với Windows Longhorn trong năm 2006) hay dịch vụ web bất kỳ.

• Cầu nối dịch vụ ứng dụng (Application Services Bridge): sử dụng Web Services Bridge để cung cấp những những dịch vụ ứng dụng ASP.NET như xác thực hay truy cập và cập nhật dữ liệu.

Thành phần client và server và mã khai báo

Mã khai báo là đặc tính thú vị của Atlas. Điều khiển server tạo ra mã khai báo và gửi đến client trong định dạng XML. Atlas Client Framework sẽ phân tích khai báo này để sinh mã lệnh (thể hiện và hành vi của trang) ngay tại trình duyệt (client) lúc thực thi. Phương thức này nhằm tránh việc tạo hàng đống mã lệnh JavaScript rồi nhúng vào trang trước khi gửi đi từ server. Bằng cách thực hiện việc này ở phía client, kích thước trang có thể giữ khá nhỏ và người phát triển không cần phải bận tâm đến những đặc trưng của từng trình duyệt ở client.

Microsoft dường như chú trọng đến kiểu lập trình khai báo này, tuy nhiên bạn vẫn có thể thực hiện kiểu mã lệnh JavaScript trực tiếp, nhưng lưu ý những tính năng hướng đối tượng hạn chế của JavaScript.

HIỆN THỰC

Atlas vẫn còn trong quá trình phát triển. Microsoft dự kiến sẽ ra mắt Atlas trong năm 2006 này như là thành phần bổ sung cho ASP.NET 2.0 và nó sẽ được tích hợp với Visual Studio 2005.

Tuy nhiên, ngay từ bây giờ bạn đã có thể làm quen với Atlas. Microsoft hiện đã có cung cấp file ASPNETAtlas.vsi để cài đặt dự án Atlas mẫu (Atlas Web Site Template, http://msdn.microsoft.com/asp.net/info/future/atlastemplate/) trên Visual Studio 2005 (http://msdn.microsoft.com/vstudio/) hay Visual Web Developer Express (http://msdn.microsoft.com/vstudio/express/vwd/). Dự án này có đủ mọi thứ cần thiết cho dự án web kiểu Atlas, bao gồm thư viện Atlas.

Hiện cũng đã có một số ứng dụng Atlas mẫu, bạn có thể tham khảo ở webblog của Nikhil Kothari (http://www.nikhilk.net) – kiến trúc sư phần mềm của Microsoft, người đã thuyết trình về Atlas tại PDC 2005. Bạn cũng có thể dễ dàng tìm thấy nhiều mẫu ứng dụng Atlas khác trên Internet.

Ngoài ra, hiện cũng có những giải pháp khác cho phép phát triển ứng dụng kiểu Ajax với ASP.NET 1.0 hay 2.0 như My Ajax.Net của Jason Diamon (http://jason.diamond.name/weblog/category/my-ajax-dot-net/) và Ajax.NET của Michael Schwarz (http://ajax.schwarz-interactive.de/csharpsample/).

CLIENT HAY SERVER??

Một trong những điểm mấu chốt của ứng dụng kiểu Ajax đó là giảm thiểu việc truyền thông giữa client và server. Vấn đề cần cân nhắc là gửi-nhận thông tin gì và tác vụ nào xử lý ở đâu? Việc này liên quan đến mô hình phát triển đặt trọng tâm phía server hay client.

Trong mô hình phát triển đặt trọng tâm phía client, ban đầu server gửi đến client thông tin khai báo “cách trình bày” cùng “cách thức ứng xử” của giao diện người dùng. Khai báo giao diện này thực thi ở client để xử lý hành vi tương tác của người dùng, gửi dữ liệu đến server và nhận dữ liệu (không phải mã HTML) đáp trả, và dùng dữ liệu này để sinh thể hiện và nội dung. Server đưa các tài nguyên khác đến giao diện người dùng thông qua các dịch vụ.

Mô hình này cho phép thực hiện hiệu quả các tình huống từ tính toán đến dữ liệu động ở client. Mô hình này cũng cho phép xử lý tức thời những hành vi của người dùng và có khả năng thực hiện những hiệu ứng thị giác như kéo-thả. Cái giá của giải pháp này gồm công sức viết mã lệnh client không nhỏ và việc chuyển luận lý giao diện từ server sang client dẫn đến yêu cầu xây dựng và học sử dụng các công cụ mới, mô hình thiết kế mới…

Trong mô hình phát triển đặt trọng tâm phía server, server sẽ gửi mã HTML đến client thay vì dữ liệu thuần tuý. Việc xử lý phía client đơn giản hơn nhiều, chủ yếu chịu trách nhiệm gửi yêu cầu rồi nhận mã HTML đáp trả và đặt vào đúng chỗ trong trang. Hầu hết việc xử lý tương tác và giao diện đều nằm ở server.

Trong khi một số người thích “đường lối” mới, nhưng một số người khác lại thích mô hình phát triển phía server quen thuộc. Có những tính năng bạn vẫn có thể thực hiện theo mô hình phát triển truyền thống, nhưng những tính năng như tương tác giao diện người dùng phải cần đến nền tảng phát triển kiểu Atlas – cho phép cân đối giữa mô hình client phong phú với mô hình phía server hiện hữu.

Google Reader learns to share
Posted by Mihai Parparita, Software Engineer, Google Reader team

Mom always taught us to share and now we know why: it’s fun. Google Reader, which keeps track of websites you like to read regularly, just added the ability to share what you like to read with your friends.

You can send a link to your starred items in Reader, and you can even put a clip on your blog with recent items from your reading list. For instance, I mark all of the interesting posts that I find as “linkblog.” Then my friends can subscribe to my “linkblog” label — even if they don’t use Google Reader — and visitors to my blog can see it in the sidebar.

Some other shared lists we’ve come across:
To get started with sharing, just click the “Share” link in Reader or see the help section.
false

Chỉ riêng chữ C, viết tắt của từ tiếng Anh “content” (nội dung), cũng đủ để phản ánh rằng điện thoại di động đang tạo nên những nhóm người sử dụng mới trong xã hội.

Các chuyên gia phân tích của Future Laboratory, tổ chức nghiên cứu về xu hướng của nguời tiêu dùng tại Anh, cho biết camera trong điện thoại ngày càng được ưa chuộng nhờ tốc độ truyền dữ liệu đã trở nên nhanh hơn, cho phép mọi người chia sẻ ảnh và video dễ dàng. Đặc biệt, công nghệ di động thế hệ 3 mang đến những dịch vụ hấp dẫn như đàm thoại video, tin nhắn đa phương tiện, e-mail, game, blog cá nhân…

Theo chuyên gia Alfred Tong, công nghệ mới đang tạo điều kiện cho mọi người tự do thể hiện sự sáng tạo theo những cách khác nhau. “Những con người ấy đã tạo nên thế hệ C – nhóm người sử dụng chỉ quan tâm đến các dịch vụ cung cấp nội dung cho điện thoại”, Alfred Tong cho biết.

Tương tự như những công cụ hỗ trợ blogger đăng tải nội dung nhanh chóng trên trang web cá nhân, các chuyên gia nghiên cứu nhận thấy điện thoại 3G cũng đang biến thành phương tiện chia sẻ tài liệu, nhật ký hay những quan niệm về cuộc sống của con người.

Theo thống kê của hãng di động Three (Anh), 2/3 trong số 3,6 triệu người sử dụng điện thoại 3G thuộc mạng này là nam giới. Người sử dụng nữ thường dùng điện thoại để chụp ảnh tài xế taxi như một biện pháp an toàn, còn nam giới lại thích tìm hiểu các tính năng để tạo ra những mẩu tin nghiệp dư. Một số còn khẳng định đã quyến rũ được “nửa kia” nhờ những “tuyệt tác” làm từ điện thoại.

Công nghệ 3G phổ biến nhất ở nhóm người 25 – 34 tuổi, chứ không phải 18 -24 (đối tượng mà các nhà quảng cáo và cung cấp dịch vụ hướng đến). .

“Những dịch vụ mới, ban đầu chỉ được một nhóm người ưa chuộng, nhưng sẽ nhanh chóng lan rộng. Giống như 15 năm trước, nếu tôi nói rằng tin nhắn di động sẽ mang về doanh thu hàng tỷ USD mỗi năm, mọi người sẽ cho là tôi có vấn đề”, chuyên gia Ben Wood của Future Future Laboratory, nói.

Chương trình “chat chit” mà các bậc phụ huynh vẫn phàn nàn rằng “chỉ tốn thời gian, chẳng đem đến lợi lộc gì” lại đang được nhiều công ty tận dụng triệt để nhằm mở rộng tên tuổi của mình với cộng đồng người sử dụng Internet.

Để thu hút được lượng truy cập đông đảo, website phải có nội dung hay, hấp dẫn. Hiện nay, nhiều doanh nghiệp đã bắt đầu đăng những thông tin giải trí không hề liên quan đến công việc kinh doanh của họ nhưng lại có sức hút lớn như các bản nhạc đang được ưa chuộng, những câu chuyện cafe chiều thứ bảy và đặc biệt là truyện cười. Thay vì gửi qua e-mail vừa phức tạp, lại vừa dễ bị người nhận bỏ qua vì sợ đường link dẫn đến trang chứa mã nguy hiểm, những doanh nghiệp này bắt đầu để mắt đến những tính năng sẵn có của tin nhắn nhanh (Instant Message – IM).

Send to Group: Gửi tin cho cả nhóm

Đa số các dịch vụ tin nhắn nhanh phổ biến ở Việt Nam hiện nay như Yahoo Messenger và MSN Messenger đều có tính năng gửi thông điệp cho nhiều người cùng lúc (Send to All in Group). “Sau khi xây dựng website, chúng tôi sử dụng chức năng gửi tập thể trên Yahoo để thông báo với tất cả mọi người lưu trong list (danh sách bạn bè), nhưng không phải ai nhận được link cũng sẵn sàng gửi tiếp cho bạn bè họ. Hữu xạ tự nhiên hương, nếu đường dẫn có nội dung hay, tự người đọc sẽ muốn ‘khoe’ với người khác”, anh Hoàng, chủ sở hữu một cửa hàng điện thoại di động ở Cầu Giấy, nói.

Sau Ngày quốc tế phụ nữ, Lê Ngọc Oanh, sinh viên cao học khóa 14 tại trường ĐHNN – ĐHQG Hà Nội, cho biết danh mục website của chị giờ có thêm trang EINTVN. Bài viết “Lời kêu gọi đàn ông nhân ngày 8/3″ của tác giả Lê Hoàng đã được đăng lại trên nhiều website và một trong những đường link phổ biến nhất là từ EINTVN – trang rao vặt, mua bán thiết bị điện tử, đồ gia dụng trực tuyến… “Mình thấy vui vui nên gửi link cho ông xã và bạn bè. Mình còn trở lại trang chính xem ‘đứa nào’ đã đăng nội dung thú vị đó lên. Ra là một trang thương mại điện tử”, chị Oanh kể.

Nguyễn Anh Thương, giảng viên Anh văn tại một trường đại học ở Hà Nội, cũng có một kỷ niệm khá bất ngờ với dịch vụ “chat” của Yahoo. Cách đây 2 năm, khi cô gặp rắc rối về chuyện tình cảm, một anh bạn là chuyên gia thiết kế phần mềm đã đăng bài Boulevards of broken dreams lên site của mình để an ủi cô. Bẵng đi một thời gian dài, cô nhận được đúng đường link đó như một lời tỏ tình nhân ngày 14/2 từ người bạn ở tận trong Sài Gòn. “Trang ấy đã lưu lạc khắp nơi, không nghĩ lại có ngày quay nó lại với khổ chủ”, Thương cười. Còn anh bạn kỹ sư kia cũng ngẫu nhiên ký được một hợp đồng xây dựng trang web về dịch vụ vận tải: “Một người gọi điện cho tôi và nói muốn lập website nhưng không am hiểu về tin học, mà báo giá của các công ty phần mềm lớn thì vượt quá khả năng của họ. Một lần họ được gửi link chứa bài hát này qua Yahoo Messenger, thấy profile (hồ sơ cá nhân) của tôi và quyết định thử gọi điện nhờ… tư vấn”.

“IM có lợi thế hơn những công cụ giao tiếp khác nhờ sự nhanh chóng và phổ thông. Đôi khi nó giúp người ta khuếch trương tên tuổi, thương hiệu một cách đơn giản và không đắt đỏ nhưng lại hiệu quả hơn cả việc đăng quảng cáo trên các phương tiện truyền thông”, ông Lê Trọng Nghĩa, Giám đốc công ty phần mềm NHD, nhận xét.

Status: Chú thích một đằng, link một nẻo

“Vừa mở Yahoo, tớ choáng nặng khi thấy status (dòng chữ bên cạnh nick) của sếp: Sex show ngày đầu tuần kèm đường dẫn đến một trang trên website của cửa hàng. Mở ra mới biết đó chỉ là 2 sản phẩm mà bọn tớ vừa nhập về”, anh Linh, nhân viên tại một trung tâm máy tính trên đường Thái Hà, hỉ hả kể: “Tớ cũng bắt chước trưng lên status và nhận được vô số lời… xỉ vả từ những kẻ tò mò, nhưng cũng không ít người quay ra hỏi thêm về thiết bị đó”.

Kiểu status “treo đầu dê, bán thịt chó” hiện xuất hiện nhan nhản trên Yahoo Messenger. “Vừa tức vừa buồn cười. Thấy dòng chữ Nữ sinh mà ‘đú’ thế này à, tớ click ngay vào. Hóa ra là ông bạn đang quảng cáo cho website chuyên kinh doanh nước khoáng của hắn chứ chẳng liên quan gì đến nữ sinh cả. Có lần, tên này đăng bán máy Sony Ericsson K750 trên mục rao vặt của VnExpress, hắn cũng để link và không quên ‘chua’ thêm câu cảm thán Ơ em diễn viên này yêu nhỉ“, chị Oanh cho biết.

Một lý do khiến nhiều người phải gõ thêm vài lời giải thích “giật gân, câu khách” là vì việc gửi đường link qua IM đang trở thành một dạng spam (tin nhắn rác) và gây bực mình cho người sử dụng. “Hồi đầu tôi còn nhiệt tình mở, nhiệt tình đọc và cũng nhiệt tình gửi đi. Nhưng hôm nào cũng nhận được cả chục link na ná như nhau khiến tôi phát chán, thậm chí đóng cửa sổ luôn mà không cần nhìn xem chúng từ đâu tới”, anh Linh bày tỏ. Ngoài ra, cảnh báo về nguy cơ virus bị phát tán qua IM xuất hiện ngày càng nhiều trên báo chí khiến nhiều người ngại mở những trang web có địa chỉ không rõ ràng hoặc không được bạn bè chú thích trước.

Những tác dụng phụ ‘đáng yêu’ khác

Sau một lần dại dột bấm vào link trên Yahoo Messenger, Thu, sinh viên năm cuối Đại học Văn hóa, đã phải khổ sở cả tuần vì máy tính của cô bị nhiễm virus Nimda. Cô trở nên cảnh giác với mọi trang web lạ, cho đến khi nhận được thông điệp “Chúng ta có vô cảm không?” và trang Petitiononline.com/AOVN – trang ký tên bày tỏ sự ủng hộ với các nạn nhân chất độc da cam Việt Nam. “Tôi, cũng như nhiều người khác, tiếp tục chuyển địa chỉ này qua IM tới bạn bè. Số người ủng hộ đã tăng lên nhanh chóng, không chỉ có người Việt mà còn xuất hiện cả những cái tên như Takeda Shinji từ Nhật hay Kelly Campbell tại Mỹ. Rất nhiều trong số đó biết đến trang này nhờ những tin nhắn nhanh”, Thu tâm sự. “Tôi yêu hơn những đường link và cảm thấy nếu có phải gặp rắc rối với virus thêm vài lần nữa cũng không sao. Không thể chỉ vì một chút dè dặt mà bạn lại bỏ lỡ cơ hội khám phá thế giới mạng mới lạ và giàu nhân ái”.

Tô Vân Hòa, giảng viên trường Cao đẳng giao thông vận tải, cũng chia sẻ một kỷ niệm khác: “Có một cậu bạn mà mình rất ghét nhưng cứ liên tục gửi link cho mình. Một hôm mình lơ đãng bấm thử và đọc được câu chuyện kể một con voi kết hôn với một con kiến dù bạn bè phải đối, đêm tân hôn con voi bị đau tim và qua đời, con kiến khổ sở than rằng chỉ vì một phút nông nổi mà nó phải dành cả đời đào huyệt chôn voi. Mỗi khi nhớ đến mình lại phì cười và tự nhiên thấy cậu bạn thật dễ thương”.

Mấy ngày gần đây, cư dân mạng lại bắt đầu cảnh giác cao độ vì Cá tháng 4 là dịp “béo bở” để thực hiện các chiêu lừa ngoạn mục qua Yahoo Messenger. Có thể kể đến trang freesms.ubb.cc với lời mời chào vô cùng hấp dẫn và ‘chân thành’ như sau: “Trang này mình làm với mục đích phi lợi nhuận do được người khác chia sẻ mã nguồn, nên mình upload lên mạng để mọi người cùng xài – lộc bất tận hưởng mà. Hiện tại chỉ nhắn tin được giữa các mạng Vinaphone, MobiFone, Viettel và S-Fone. Mình sẽ cố gắng để có thể nhắn tin được ra nước ngoài và mấy mạng mới ra ở Việt Nam”. Tuy nhiên, ngay sau khi soạn thông điệp và bấm nút “Gửi”, màn hình sẽ hiện ra một chú lừa to đùng cùng lời giải thích rất “ngây thơ” rằng: “Mình làm trang này để chào mừng ngày Cá tháng Tư. Dù chưa tới 1/4 nhưng mình phải gửi trước, không đến ngày đó thì chẳng ai tin cả”. Tính đến đêm ngày 30/3, số nạn nhân của FreeSMS đã lên đến gần 20.000 người.