Category Archives: Giáo dục

Mấy hôm nay, về quê tĩnh dưỡng, đi thăm vài người bạn cũ, bạn bè giờ cũng sắp tốt nghiệp cả rồi, chúng nó đang nhốn nháo tìm việc cả lên. (Ôi, cái chuyện cơm áo gạo tiền, lúc nào cũng giống nhau, chỉ khác bây giờ nó được khoác lên cái áo năng động, thăng tiến, thành đạt mà thôi)

Riêng có một việc làm cho tôi mấy hôm nay không sao ngủ được, đó là tin anh Phạm văn Trung, một người bạn học trên tôi một năm lúc ở trường Lê Khiết, đã được nhận vào viện toán học, hợp đồng 1 năm. Anh Trung tốt nghiệp đại học loại giỏi, giải nhất nghiên cứu khoa học, có một công trình được đăng trên tạp chí nước ngoài, sự hỗ trợ nhiệt tình của giáo sư. Đối với người có tất cả những thứ như thế, đường vào viện toán có lẽ không quá xa.

Nhìn ba anh Trung nói về con mình với cả một vẻ nhiệt thành, một lão nông chính hiệu, tôi nhận ra toán học về khía cạnh nào đó cũng giống như một môn Olympic, tức là ở đó mọi người đều bình đẳng, chỉ có một chân lí: tôi đã làm tốt hơn anh, tôi thắng.

“Có một thời tôi đã từng mơ…”

Tôi nhớ những ngày ra Hà Nội học toán, một mình tôi bỏ đoàn đi đến viện toán học và tự hứa với mình rằng sẽ làm việc tại đây. Tôi hiểu rằng học toán ở phổ thông cũng như trong trường đại học sẽ chẳng là điều gì vinh quang cả so với một nguời làm toán chuyên nghiệp. Lúc đó, tôi không nghĩ rằng cuộc sống của mình rồi sẽ thay đổi rất nhiều.

Năm lớp 12, thầy Nguyễn Minh Hà, trong một đợt tập huấn, đã phê bình cách trình bày cẩu thả và ngây thơ của tôi, nói rằng tôi sẽ không bao giờ làm toán cho ra hồn được. Lúc đó, thầy có đưa ra hai khái niệm “đứa trẻ biết làm toán” và “người đàn ông làm toán”.

Bây giờ, tôi đang có một kế hoạch khá lớn trong ngành y, cái ngành mà tôi đến giờ vẫn còn thấy xa lạ. Kế hoạch này cũng đã làm tôi suy nghĩ rất nhiều, động đến câu hỏi về những tiềm lực của mình, điều gì tôi thật sự muốn làm trong cuộc đời và những giới hạn của chính mình.

Chính trong toán học, tôi đã tìm thấy giới hạn của chính mình, điều này có lẽ nhiều người bạn học toán chung với tôi cũng đã cảm nhận được, nhưng một vài người đã không dừng bước, tôi khâm phục họ. Tôi bây giờ giống như một kiếm sĩ trải qua nhiều thất bại đến nỗi không dám cầm kiếm một lần nào nữa.

Không phải mọi con đường điều dẫn tới thành Rome, tôi đã hiểu điều đó, một người bạn của tôi đã đi đến đó, tôi có nên đến đó hay không?

Điều gì tôi thật sự muốn làm trong cuộc đời?

Có lẽ mãi mãi tôi cũng chỉ là một “đứa trẻ biết làm toán” hay là…Gô con, “trái tim đập những điều không thể nói”.

Ai trong chúng ta cũng có sự sáng tạo, và tin tốt là nếu bạn thấy mình “chưa” (chứ không phải là “không”) sáng tạo, bạn có thể học. Công việc càng khó thì não bạn hoạt động càng tích cực. Theo nghiên cứu thì đến thiên tài cũng mới sử dụng có 15% hiệu suất não của mình! Cho nên, học nghĩ sáng tạo để não bạn đi xa hơn là hoàn toàn có thể. Thậm chí, có rất nhiều gợi ý cho cách học nghĩ sáng tạo.

a. Phương pháp SAEDI – “SAEDI” không phải là từ gì quái dị, nó là từ “IDEAS” viết lộn ngược. Ðôi khi, nghĩ sáng tạo chỉ cần bạn nhìn mọi thứ theo chiều khác đi.

S = State of mind (cách suy nghĩ): Tự nói rằng “Tôi chẳng sáng tạo chút nào” hoặc “Tôi chẳng bao giờ có ý tưởng gì hay ho đâu” sẽ huỷ hoại sức sáng tạo của bạn. Nghĩ sáng tạo đòi hỏi nghĩ tích cực.

A = Atmosphere (không khí). Có những người thích ở nơi đông người mới nghĩ ra nhiều thứ. Có những người lại phải ngồi một mình yên tĩnh mới sáng suốt được. Bạn hãy tạo cho căn phòng mình có không khí tuỳ theo sở thích. Nếu bạn có nhiều ý tưởng khi đang… đi, hãy chăm đi dạo ở công viên, bờ hồ… Trang trí phòng bạn bằng những bức ảnh, ánh sáng… mà bạn thích.

E = Effective thinking (Nghĩ hiệu quả). Nghĩ hiệu quả tức là hướng suy nghĩ của bạn đến những mục đích cụ thể. Không có mục đích thì bạn sẽ làm rối hết mọi việc lên.

D = Determination (Quyết tâm). Sự sáng tạo đòi hỏi có luyện tập. Bạn nên tạo thói quen tưởng tượng. Những ý tưởng ban đầu của bạn có vẻ hết sức buồn cười và không ai chấp nhận, nhưng đừng bỏ cuộc.

I = Ink (viết). Khi bạn nhìn vào những thứ bạn viết ra, bạn sẽ có nhiều ý tưởng hơn là chỉ nghĩ đến nó.

b. TILS:

T = Think it: Suy nghĩ.

I = Ink it: Viết ra.

L = Link it: Nối, liên tưởng.

S = Sync it: Ðồng nhất.

Luyện tập

Có những bài tập suy nghĩ sáng tạo mà bạn có thể thử:

- Nếu bạn cần giao tiếp nhưng bạn không thể sử dụng từ ngữ, dù viết hay nói, thì bạn làm cách nào? Một người đã đưa ra những ý sau: ngôn ngữ cử chỉ, dùng trống, dùng đồ vật, dùng đèn nhấp nháy, vẽ…

- Bạn hãy đặt ra những câu hỏi cho những đồ vật thường ngày, ví dụ: “nếu thang máy không chỉ đi lên và xuống mà còn từ đầu này sang đầu kia thì sẽ thế nào?”, “nếu mỗi cơ quan yêu cầu mỗi ngày mỗi người phải cười ít nhất 30 phút thì sao?”…

- Vấn đề của một công ty bán khoai tây chiên: khoai tây chiên thường rất dễ vỡ vụn khi đóng gói, vận chuyển…, vậy làm thế nào? Bạn có thể bắt đầu bằng việc nghĩ ra cách đóng gói và vận chuyển mà không làm khoai tây bị vỡ. Sau đó, suy luận: về bản chất thì cái gì giống miếng khoai tây chiên, chúng có dễ vỡ không?…

- Một cuốn sổ tay thì bạn có thể sáng tạo theo cách nào? “Sức ỳ tâm lý” rất dễ làm cho đa số mọi người nghĩ rằng “sổ tay thì còn gì để sáng tạo nữa!”. Nó rõ ràng đến phát bực mình! Nhưng vẫn có những ý tưởng của những người không chịu thua: Sổ tay đổi màu; Sổ biết đọc những thứ mình viết lên; Sổ sửa lỗi chính tả; Sổ hình tròn; Sổ có thể dán giấy lên mà không cần hồ dán; Sổ có thể dịch từ tiếng Việt sang tiếng Anh…


Ngày nay, hệ thống tín chỉ Mỹ đang được chính thức đề nghị như một phương thuốc chữa trị tính chất xơ cứng của kế hoạch học tập và chương trình đào tạo thống nhất ở TQ.
Hầu hết các trường đại học ở TQ đều đang thực hiện đào tạo theo tín chỉ.
Kinh nghiệm của TQ trong việc vận dụng hệ thống tín chỉ Mỹ rất đáng lưu ý. Trước hết và quan trọng hơn hết, ở TQ, hệ thống tín chỉ đơn giản chỉ là chồng lên trên một kế hoạch giảng dạy được sửa chữa chút ít và SV vẫn có rất ít quyền lựa chọn môn học.
Các đại học TQ phân bổ số giờ tín chỉ cho từng môn, nhưng những môn bắt buộc vẫn chiếm tới 85% trong chương trình cử nhân bốn năm. Chưa hết, các tín chỉ thường không thể chuyển đổi giữa các khoa hoặc giữa các trường.
So với Mỹ, nơi mà hệ thống tín chỉ được xem như phương tiện để thực hiện giáo dục tổng quát, thì ở TQ hệ thống tín chỉ có vẻ như được vận dụng như một mục đích tự thân, như một phương tiện để tính khối lượng kiến thức mà SV đã học được. Kết quả là hệ thống tín chỉ được dùng như một công cụ quản lý mà không đạt được những lợi ích như trong hệ thống giáo dục đại học Mỹ.
Tại sao hệ thống tín chỉ Mỹ ở TQ lại khác nhiều đến thế so với ở Mỹ? Dù câu trả lời có thể phức tạp và đa diện, có thể xem hai nhân tố sau đây là quan trọng nhất:
1. Trước hết, việc thực hiện hệ thống tín chỉ ở TQ thiếu hẳn một cuộc tranh luận tương ứng về phương diện lý luận, và một tuyên ngôn ở cấp nhà trường vốn là một định hướng tuyệt đối không thể thiếu cho việc tạo ra hệ thống tín chỉ.
Ở TQ, sự chỉ trích đối với hệ thống tín chỉ Mỹ tỏ ra đúng khi cho rằng hệ thống này có những ảnh hưởng tiêu cực, chẳng hạn cho phép khá nhiều SV chỉ theo đuổi những môn dễ học, bỏ qua những môn cơ bản, và vì vậy mà thất bại trong việc thụ đắc một kiến thức có tính hệ thống.
Các “kiến trúc sư“ của chương trình đào tạo ở các đại học Mỹ cũng từng phải đương đầu với những phê phán như vậy từ lâu, và đã đi đến những câu trả lời khá là khác nhau qua một quá trình cân nhắc rất thận trọng. Như đã nói, hệ thống tín chỉ Mỹ chẳng hề là một hệ thống: ở trường này, nó được dùng để tạo thuận lợi cho một chương trình hoàn toàn tự chọn; ở trường khác, nó chỉ là một hệ thống quản lý bởi vì tất cả các môn đều là bắt buộc; và ở các trường đại học Mỹ quan trọng nhất, hệ thống tín chỉ được dùng để thực hiện quan niệm cụ thể của nhà trường về giáo dục tổng quát.
Nguyên hiệu trưởng Đại học Havard Charles Elliot, cũng như nguyên trưởng khoa Henry Rosovosky và hiệu trưởng đương nhiệm Lawrence Summers đều đáp lại những ý kiến chỉ trích về hệ thống tín chỉ với cùng một quan điểm: hệ thống giáo dục đại học không nhất thiết phải được thiết kế để thỏa mãn nhu cầu của những SV kém cỏi nhất. Những SV kém thì bao giờ cũng kém dù cho hệ thống là tự chọn hay cưỡng bách. Thay vào đó, hệ thống giáo dục cần cổ vũ SV và giảng viên đạt đến những thành tựu xuất sắc.
2. Một khả năng giải thích thứ hai là hệ thống giáo dục đại học TQ đang nỗ lực đáp ứng những yêu cầu mà sự tăng trưởng kinh tế toàn cầu đang đặt ra. Đảng Cộng sản TQ đã tuyên bố rằng nhiệm vụ chủ yếu của trường đại học là giúp hiện đại hóa đất nước.
Các nhà khoa học và quản lý giáo dục TQ đã diễn giải nhiệm vụ này theo ý nghĩa các môn học trong trường đại học cần phục vụ yêu cầu của nền kinh tế về lực lượng lao động có kỹ năng, và SV cần có những kiến thức khoa học kỹ thuật để đưa TQ trở thành một quốc gia hiện đại; TQ cần những chuyên gia chứ không phải những người tốt nghiệp đại học với một kiến thức tổng quát. Họ cho rằng hệ thống giáo dục đại học Mỹ nói chung và hệ thống tín chỉ nói riêng được thiết kế trong điều kiện nước Mỹ đã là một quốc gia công nghiệp hóa.
Điều này không đúng. Như đã nói, những cuộc tranh luận buổi đầu về nhu cầu giáo dục tổng quát ở Mỹ đã bắt đầu cách đây hơn 150 năm. Dĩ nhiên là TQ và Mỹ đang ở những trình độ phát triển kinh tế khác nhau, nhưng vẫn có một sự thật là các nhà giáo dục Mỹ luôn không ngừng suy tư về vấn đề giáo dục tổng quát trong tương quan với giáo dục chuyên ngành, và xem xét vấn đề chức năng của trường đại học với ý nghĩa triết học của nó.
Một lập luận thứ hai gắn với việc phủ nhận giáo dục tổng quát là: hệ thống tín chỉ vốn cho phép quyền lựa chọn khoa học của SV, sẽ tạo ra một mặt bằng trình độ chuyên môn thấp hơn là một hệ thống tín chỉ với những môn bắt buộc. Những sự kiện thực tế cho thấy lập luận này cũng không đúng. Như đã nói trên, sự lựa chọn của SV sẽ cổ vũ khuyến khích các khoa và các giảng viên đưa ra những môn học mới, những chuyên ngành mới gắn bó với những mối quan tâm của SV và yêu cầu của thị trường lao động.
Một chương trình cưỡng bách về bản chất coi mọi SV là như nhau và chuẩn bị cho họ một cách giống nhau để bước vào những lĩnh vực chuyên ngành. Trong lúc đó, chương trình tự chọn tạo ra một không gian rộng rãi cho phép giảng viên và SV tập trung sức chú ý vào những chuyên ngành hẹp và sâu, vốn là mũi nhọn của nghiên cứu và khoa học kỹ thuật trong mọi lĩnh vực. Thật ra ở Mỹ, các phòng thí nghiệm của các đại học đang dẫn đầu những nghiên cứu thử nghiệm, nhiều SV tốt nghiệp đại học Mỹ được đào tạo để bước vào chuyên ngành của họ với những kinh nghiệm về tri thức và phương pháp tối tân nhất.
Việc thực hiện hệ thống tín chỉ ở VN
Từ năm 1993, nhiều trường đại học ở VN đã bắt đầu thử nghiệm hệ thống tín chỉ, bao gồm Đại học Cần Thơ, Đại học Đà Lạt, Đại học Bách khoa… Tuy vậy, các đại học VN vẫn chưa xem hệ thống tín chỉ như một phương tiện đẩy mạnh việc thực hiện những quan niệm giáo dục có được thông qua quá trình tranh luận, tư vấn và lãnh đạo. Thay vào đó, hệ thống tín chỉ đang được dùng như một thứ băng dán nhằm xoa dịu những chỉ trích hiện tại, mà không tác động thật sự đến việc cải cách chương trình. Việc thực hiện hệ thống tín chỉ ở VN rất giống với những thử nghiệm ở TQ mặc dù với ít tham vọng hơn.
Để hiểu biết về những hạn chế hiện nay và tính khả thi của hệ thống tín chỉ trong tương lai ở VN, cần có nhiều hơn những công trình nghiên cứu về những vấn đề quản lý đang đặt ra cho cơ chế hiện tại của hệ thống đại học VN. Tuy vậy, có một điểm rất rõ ràng: hệ thống giáo dục đại học VN còn cách rất xa hệ thống của Mỹ và TQ về phương diện phi tập trung hóa.
Kết quả những động lực khuyến khích và một khoảng không gian cần thiết để phát triển mục tiêu và nhiệm vụ giáo dục ở cấp đại học hầu như không tồn tại, dù rằng Đại học An Giang có thể coi là một ví dụ về việc thử nghiệm thành công quá trình phi tập trung hóa ngoài bối cảnh của việc thực hiện hệ thống tín chỉ. Không có khả năng phát triển và thực hiện một quan niệm vững chắc về giáo dục ở cấp độ trường đại học, hệ thống tín chỉ có thể không mang lại lợi ích gì đáng kể cho trường đại học hoặc cho SV.
Hiển nhiên là có những điểm thuận lợi cho việc thực hiện hệ thống tín chỉ ở VN. Ở cấp độ quản lý, hệ thống tín chỉ là công cụ hợp lý hóa việc phân bổ các nguồn lực vật chất. Tuy vậy, dưới góc độ những nỗ lực cải cách giáo dục đại học VN thì đó không phải là mục tiêu quan trọng nhất.
Thay vào đó, VN phải tìm được con đường gắn kết trường đại học với kỹ nghệ điện tử, công nghệ hóa – sinh và những lý thuyết khoa học khác đang là mũi nhọn của cải cách kỹ thuật, cũng như tìm được những phương pháp khả dĩ đem lại cho SV một nền giáo dục tổng quát rất cần thiết, để họ vẫn là người có khả năng suy nghĩ một cách linh hoạt khi có những lý thuyết và phương pháp nghiên cứu mới nảy sinh. Như đã nói trên, trường đại học sẽ có một vai trò nổi bật khi VN tiếp tục con đường phát triển từ một nền kinh tế xã hội nông nghiệp đến một nền kinh tế công nghiệp, và sau đó là nền kinh tế tri thức.
Nếu muốn thành công trong việc dùng hệ thống tín chỉ như một công cụ để cải cách giáo dục, các nhà quản lý giáo dục, giảng viên và những người làm chính sách cần phải tự mình sáng tạo một tầm nhìn, một quan niệm, cũng như mục tiêu giáo dục chứa đựng trong những quan niệm ấy.
Việc sao chép nguyên xi tầm nhìn về giáo dục của Mỹ trong việc lèo lái hệ thống tín chỉ sẽ là không thể và không thích hợp. Chắc chắn là VN đang có những nhà quản lý cốt cán và những giảng viên tài năng để hoàn thành nhiệm vụ này. Tuy nhiên, để có thể tiến lên phía trước, các cá nhân ấy sẽ cần có quyền chủ động ở mức độ cao.
***
Bí quyết thật sự của giáo dục đại học Mỹ là phi tập trung hóa. Nhờ đó, tín chỉ là một cơ chế quản lý nhằm kết hợp lợi ích và mong muốn của từng cá nhân SV với quan niệm giáo dục và tầm nhìn của trường đại học. Một cách tổng quát, có thể nói tầm nhìn giáo dục này là sản phẩm của những cuộc tranh luận trí thức ở cấp đại học về vấn đề đâu là điểm quân bình lý tưởng giữa giáo dục tổng quát và giáo dục chuyên ngành, cũng như vai trò của trường đại học trong xã hội và việc phát triển cá nhân của SV.
Khi xây dựng tầm nhìn và mục tiêu như vậy, hệ thống tín chỉ được dùng để thúc đẩy cạnh tranh giữa các khoa, tạo ra những khả năng và động lực khuyến khích để nâng cao chất lượng giảng dạy của giảng viên và nghiên cứu của SV trong những chuyên ngành hẹp, có tính liên ngành và ở trình độ cao.